Phi Vân
ÐỒNG QUÊ PHÓNG SỰ
Phần thứ
nhất - Phỏng Sự Ngắn
Muốn Ăn
Trứng Nhạn
Không biết mỗi bữa
trưa hè oi ả, trời nắng nung người, có ai
nghe người đàn bà Bạc Liêu đưa võng kẽo
cà kẽo kẹt ru con:
Tháng ba cơm gói ra hòn,
Muốn ăn trứng
nhạn phải lòn Hang Mai...
Mà ngao ngán nỗi gì không?
Riêng tôi, có một dạo,
đang thất thểu trên đường từ Vĩnh
Châu ra Biền, nghe được câu hát này, tôi thấy thích
thích, đoán chừng rằng Hang Mai có lẽ là ở
miền nào xa lắm. Tôi định có ngày đến
viếng cho thoả lòng.
Bây giờ tôi đứng
trước Hang Mai!
Cho hay nếu mình chịu
bước chân đi thì còn lạ gì với những cái tên
mà mình cứ tưởng tượng nó ở đầu
trời cuối biển nào!
Hang Mai là gì?
Các bạn giàu tưởng
tượng đừng cho rằng Hang Mai là một chổ
mà vào mùa đông lạnh, hoa mai vươn cánh khoe vàng!
Không, “Mai” đây chỉ có
nghĩa là quê mùa cổ lỗ ở chốn đồng quê
là... là... Khỉ !
Vậy, Hang Mai tức là hang
của loài khỉ.
Kinh Hang Mai ở làng Khánh Lâm (Cà
Mau) bắt đầu từ Kinh Biện Nhỉ, phía
dưới công sở trổ ra Tiều dừa.
Kêu là “kinh” cho nó oai một chút
chớ nó quanh co như “cửu khúc trường xa!” Nó có
không biết bao nhiêu ngách và không biết bao nhiêu trấp
cản đường.
Ở hai bên bờ,
người ta có thể gặp những con trúc, rái, kỳ
đà, chồn, ong mật và vô số cá.
Tôi được một
lần đi suốt con kinh Hang Mai, và đi một cách
“đàng hoàng” vinh diệu.
Ông Xã trong làng gả con gái
Ông Xã mà gả con gái thì
phải biết, cái đám ấy nó long trọng đến
bực nào ?
Muốn có “cái gì” thêm long
trọng hơn nữa, lúc đưa con về nhà chồng,
ông lại tìm ngay chúng tôi:
- Thằng Sáu mầy có tài
ăn nói, thằng Năm mầy có ngón đàn hay, vậy bây
vui lòng theo tao qua bên “đàng trai” cho “rôm” và để bên
ấy biết rằng làng mình cũng có lắm “nhân tài” !
Tôi ngồi và vò ngón tóc:
- Từ đây qua rạch “Bà
Già Sốc” xa quá cậu à ! Vả lại tôi có tật
ngủ sớm, hể thức khuya một chút là muốn
nằm liệt ra rồi !
- Không sao, xuống ghe tha
hồ ngủ, hại gì mậy !
- Úy, thần rừng quỉ
bụi đất Khánh Lâm nầy ơi, nhè ở đây mà
cậu bảo ngủ dưới ghe cho muỗi mỏng nó
tha đi !
- Cái thằng! Không mấy
thuở cậu mượn mà lại làm bộ làm tịch
!...
Thằng Năm xen vào:
- Ði mầy, ra miệt biển
chơi, xuống ghe tao đờn cho mầy nghe, buồn
ngủ thế nào được !
Rồi nó láy tôi ra ngoài:
- Mầy ngu lắm, tội
tình gì mà để “chúng nó” đi riêng một mình !
- Chúng nào ?
- Con Tư ông Chủ, con gái
Bộ Liếm, con Tám, chớ còn chúng nào nữa ! Tụi nó
sẽ đi chung với mình một ghe, gục chung với
mình một lượt, chẳng là “sung sướng”
lắm à ?
Ðường về rạch Bà
già Sốc dài trên ba chục cây số, phải đi
suốt con kinh Hang Mai dọc ra mé biển.
Ðàng trai lại rước dâu
vào lúc mười giờ tối. Lễ xong, chúng tôi cùng nhau
xuống ghe lườn. Ðàng trai đi hai ghe, đàng gái theo
hai ghe, một ghe ông già bà cả, một ghe thanh niên. Ai trông
thấy cũng thì thào khen ngợi, không hỗ danh ông Xã chút
nào.
Tôi mắc lo theo đuổi
lũ con gái, quên coi thằng Năm nó vác cây đờn kìm
thế nào mà lâu lâu cái thùng đờn khua leng keng leng keng in
như tiếng chuông của thằng Chệc bán bông cỏ.
Vào một đêm không trăng.
Sao đầy trời. Bóng đêm bao phủ nhu bức màn
mờ.Gặp mùa gió bấc, ngồi trong mui chẹt nghe
hơi sương xuống, cũng đủ lạnh lùng.
Thỉnh thoảng ngọn gió
đồng hiu hắt lùa vào khoang gần tắt phụp
ngọn đèn dầu. Bên ngoài, các anh chèo vừa nhịp mái
ăn rập vừa “hò khoan” vang dậy.Bên trong, ngồi
đối diện với mấy cô áo máu xanh đỏ, thằng
Năm cảm hứng lên dây Tố lan đờn một
bản Vọng cổ rặt “mùi”.
Tôi bị con ma buồn ngủ
kéo hai mí mắt gần sụp, nhưng sợ gục lên
gục xuống, “con Tám” nó cười, nên rán dềm
vững cái cần cổ. Tuy vậy chút chút cái đầu
cũng gặc qua được một cái như để
nhịp “song lang” giùm cho thằng Năm.
Các cô ngồi thủ thỉ,
lâu lâu chăm chú dòm thằng Năm đang “hỉnh mũi”
cho mấy ngón tay nhấn vuốt hai sợi dây đờn.
Hố hò khoan
Con gái ông Bang
Che dù che lọng,
Con gái bà bóng
Thổi lửa tắt
đèn...
Cà rùm tùm beng.
Hố hò khoan
Con đỉa đeo bà,
Con gà cục tác,
Mỏ nhát cầm chèo,
Con mèo cầm lái,
Con rái chạy buồm,
Con tôm tát nước...
Là cái hố hò khoan...
- Ghe ai đó ngừng lạI !
Bên ngoài, bỗng có tiếng hét
vang lên.
Tiếng hò khoan dứt ngang.
Thằng Năm nhè nhẹ
để cây đờn xuống.
Các cô xanh mặt dòm giáo giác.
Tôi đang gục lia cũng
hoảng hồn nhảy ra ngoài.
Ba ghe trước đều
buông chèo. Ðàng xa hơn, mấy ngọn đuốc sáng lòa
từ trên xuồng nhỏ nhô ra.
Dưới ánh sáng, mấy anh
chàng lực lưỡng, mình trần trùi trụi, đang
phò anh chúa đoàn, bơi ào lại.
- Ăn cướp mầy
Năm ơ i!
Thằng Năm “mẹ
thỏ” vừa nghe tôi kêu cướp đã tuôn ra ngoài phóng
đùng xuống kinh lội vô bờ lủi mất.Các cô run
lên cầm cập sa sầm áp níu lấy tôi. Bụng tôi
đã thấy điếng mà bị “con Tám” ôm ngang cần
cổ lại càng điếng hơn nữa.
- Mấy ghe kia lập tức
ngừng lại, thằng Sàng[1]
ở đây!
Giọng hét sang sảng như
Trương Phi
hét Tào Tháo ở cầu Tràng Bản. Mấy anh chèo bên ghe tôi
khiếp đảm cũng nhảy đùng đùng xuống
nước. Tôi vội thổi tắt đèn, xô mấy cô
nằm rạp dưới khoang ghe, rồi ngóc đầu
lên dòm.
Bọn cướp lục ghe
dâu rầm rầm.
Nghe tiếng khóc xen lẫn
tiếng hăm doạ, tôi rợn người toan chỗi
dậy nhảy đi, nhưng mấy cánh tay các cô bấu
chặt như sam, không tài nào gỡ nổi.Thôi thì, hoạ
mang, mang lấy cho cùng, tôi chết sững đợi
đến số phận mình.Nhưng... bọn cướp
đã hô “buồm” và mấy chiếc xuồng rẽ
nước bắn đi... Hú vía! Thì ra họ đã “no hàng”
ở ghe đàng trai, không cần đến chúng tôi
nữa.Tôi lồm cồm ngồi dậy, đỡ mấy
cô áo màu lên. Áo màu không còn là màu nữa. Bùn nước trong
khoang ghe đã nhuộm thành rằn ri mất rồi, mà
mấy cô chỉ là những tàu lá đang run.
Không kịp lên tiếng hú coi
thằng Năm núp ở đâu, và đến coi ghe đàng
trước lành dữ thế nào, tôi ngẫm nghĩ
bậc cười nhớ đến câu hát trên
đường Vĩnh Châu:
Tháng ba cơm gói ra hòn,
Muốn ăn trứng
nhạn phải lòn Hang Mai...
Châu Xương, cử Thanh Long Ðao!
Hồi ấy bạn tôi và tôi
còn gõ đầu trẽ để “kiếm xu mua gạo”
trong cái làng mà nghe đến tên, các bạn sẽ rùng mình:
Làng Rạch Cóc! Thằng Năm Quấy (bạn tôi) có tánh
liến thoắng, chưa gì đã bàn tìm nơi khác
để sanh phương. Anh ta bảo:
- Thôi đi, ta sợ cóc
lắm, vô trong ấy, buổi cơm nào người ta
cũng ăn toàn là cóc thì chết đói vẫn hoàn chết
đói!
Nhưng một tháng sau, chúng
tôi đã “quen nước quen cái” với xóm Rách Cóc.Cóc đâu
chẳng thấy, chỉ thấy toàn là thầy Rùa, Thầy
Pháp, ông Ðồng, bà Cốt, cô Tư, cô Hai, cô Bảy.
Các bạn đừng thêm: cô Năm Bến Tre,
cô Ba Cần
Thơ... coi chừng cái cần cổ: mấy cổ
vặn họng thì không khéo phải tốn một con
gỏi...[2]
Ở đây có xác Ông - tức Quan Công – là được
nhiều người rước nhất. Nhưng muốn
cầu Ðức Quan Thánh về thì phải tốn một con
heo: con heo ấy, sau khi lễ đàn rồi, lẽ cố
nhiên là phải về tay ông Xác.Chúng tôi đã được
xem nhiều lân cách chữa bịnh của xác Ông, và lần
nào cũng như lần nào, thấy con heo to tướng
đặt ngay bàn giữa, thằng Năm Quấy cũng
bảo tôi:
- Cái thằng cha xác không
biết nó ăn làm sao cho hết mấy con heo!
Ông Xác làng Rạch Cóc có vẽ
oai nghi đặc biệt mà lúc Ông đã nhập vào rồi
thì xem còn lẫm liệt hơn nữa.
Và lúc Ðức Quan Vân
Trường nạt to:
- Châu Xương, cử Thanh
Long đao!... thì ngài liền tung mình đi một bộ võ
tuyệt diệu.
Ðứng ngoài xem, tôi cũng
phải khen thầm: “Quả thật đệ nhất anh
hùng!” còn bao nhiêu khán giả khác đều cúi đầu,
mặt lộ vẻ sợ sệ: “Ông đang cử Thanh
Long đao, coi chừng!” Mỗi khi xem tới khúc ấy,
thằng Năm Quấy thúc hông tôi, bảo nhỏ:
- Châu Xương chưa
kịp cử đao, sao ông hươi sớm thế ?
Tôi trả cái thúc lại,
cũng bảo nhỏ:
- Câm miệng! Coi chừng Ông
vớt trái!
Quên cho các bạn biết chúng
tôi đang ở đậu nhà ông Cả trong làng. Một
hôm, con gái ông đau. Ông Cả vốn là
người không tiếc một con “gỏi”, nên vời ngay
xác Ông đến và sửa soạn nhà cửa cho lễ
đàn tiện bề tiến hành.Gia nhân làm thịt một
con heo đúng tạ. Thằng Năm Quấy lại bảo
với tôi:
- Ðấy! Thêm một con
nữa. Mới có ba hôm mà nó đã được hai con
rồi, khoái thật!
Tối lại, gần hết
dân trong làng đều tề tựu trước nhà ông
Cả để chờ xem lễ đàn. Ðèn đốt sáng
trưng. Gia quyến ông Cả đều đứng ngoài
nhà trước, chỉ có hai chúng tôi là từ trong ngó ra,
không phải chen lấn ở hạng “cá kèo” như mọi
lần khác. Ông đã nhập xác.Ai nấy đều
đứng im.
- Ta là Quan Vân Trường, Hán
Thọ đình hầu!
Ông lại còn nói thêm, nói
nhiều lắm, hỏi nhiều lắm.
Ông Cả vừa run run vái
lạy, vừa lập cập trả lời.
Thằng Năm Quấy thì
cứ mải nhìn... mấy cô gái ở hạng “cá kèo”.
- Châu Xương, cử Thanh
Long đao!
Tôi đang chăm chú xem,
bỗng giật mình đánh thót vì bên tai có tiếng la:
- Dạ !
Thôi chết rồi, thằng
Năm Quấy làm sao thế ? Ừ chính người lên
tiếng là thằng Năm Quấy, mà thằng Năm
Quấy bây giờ lại cầm dao phay sáng giới từ
chỗ đứng nhãy phắt ra, phùng mang, trợn mắt
múa vù vù xem ghê quá. Trong khán giả, tự nhiên có tiếng
xầm xì. Thằng Năm Quấy múa một vòng như
Chệc Sơn Ðông mãi võ, làm khán giả sợ sệt lấn
nhau lui xa ra.
Không còn một cái đầu
nào dám nhìn lên. Thằng Năm Quấy vẫn múa. Tôi
đứng cạnh chỗ xác Ông, thấy ngực lão ta
phập phồng và miệng lão ta há hốc. Lúc thằng
Năm Quấy múa gần ông ta, tôi nghe có tiếng bảo:
- Chia hai! Chia hai!
Nó múa thêm một vòng nữa
rồi quì xuống dưng cây dao ngang mày.
Chụp lấy con dao, mặt
Ông trở lại oai nghi, Ông tung mình đi một bộ võ
tuyệt diệu.
Khán giả vẫn cúi
đầu.
- Mình phải chia ăn
chớ! Mầy xem, mới có ba ngày mà nó được
những hai con rồi!
Trời ơi, nghĩ
được cái ý ấy, ta sướng quá và phục...
tao quá! Tao không thèm cho mầy hay là sợ mầy cản
trở. Trong lúc tụi nó lục đục ở nhà
trước, tao xuống bếp lấy con dao đem
giấu phía sau tấm vách giữa, rồi tao chực
hờm khi nói kêu “Cử Thanh Long đao” là nhảy ra.
Sẵn trước kia có làm thầy tuồng cho gánh hát Thái
Dương của thằng cha Cống Quỳnh, tao có
học quơ bậy cặp song tô, nên đến khúc
ấy tao chụp dao quậy vù vù cho tụi khán giả
sợ lui ra xa.
Tao biết rồi, thế nào
thằng chả cũng nói với tao một cái gì, mầy
bảo có “thánh” lắm không?
Trao thân con khỉ mốc !
Hương Ba càu nhàu: “Cái làng
gì mà kỳ khôi quá! Các ông nghĩ: Làm cha mẹ, ai cũng
muốn cho con nó được nên vợ nên chồng,
đàng này họ mảng bo bo mấy cái hủ tục
bắt bẻ từ chút, đòi hỏi từ cái lễ
mạn, đã thèm rồi mới chịu gả con gái...
- “Chịu gả” mà có xong cho
đâu! Ðây để tới lúc mình tới rước dâu
rồi chú coi, chém chết ông Bái hay ông Tộc trưởng
bên ấy cũng “vặn anh cai Sót đủ điều...”
Ông
Chánh Khá nói thêm một cách chán nản:
- Mà cái xứ gì ở xa tí-mù!
Rồi chán nản nhìn hàng cây
mắm ở ven rừng, “giẵm chân” bên bờ sông Ông
Ðốc.
Chiếc ghe máy có cái mui
ngạo nghễ, khoe những dâyc ờ lon con, giăng
từ cột buồm ra sau lái.
Tiếng máy chạy sình
sịch.
Trời về chiều.
Tàu chạy hôm nay nữa là hai
hôm rồi: sông Ông Ðốc, kinh xáng Bà Kẹo, Ðầm Cùn, kinh
xáng Thọ Mai, nhưng xóm Kiến Vàng vẫn còn xa lơ xa
lắc.
Họ đàng trai đã
mệt nhọc ngồi trong chiếc tàu chật hẹp.
Người ta ăn hết ba lượt bánh mì với
thịt quay mua ở Cà Mau. Chú rể ngày đầu còn
khăn đóng áo dài, hôm sau đã cổi dẹp lại
một bên, mặc chiếc áo thun giả ngồi ở
trước mủi tàu ngong ngóng, thỉnh thoảng
vươn vai hít không khí rồi cú rũ nhìn lũ trẻ
trong xóm chạy theo tàu trên bờ sông vỗ tay reo:
- Ê! Ðám cưới!...
“Ði họ” còn có coả ba cô
gái: áo tím, áo xanh, “bọt bê” dài thườn thượt.
Các cô tỉ mỉ từng
chút, luôn luôn sẽ nhặt sống áo và lai quần hàng thẳng
bóng để đôi giày cườm khỏi vướng mà
làm lấm hư đi...
Hôm xuống tàu, ba cô chọn
một chỗ sạch ngồi nói chuyện với nhau khe
khẽ, ai mời ăn gì cũng từ chối, thỉnh
thoảng đưa cái bốp đầm lên soi kiếng,
sửa lại cái vành môi.
Nhưng hôm nay, ông Chánh Khá đã vắt cái áo đen trên
vai và gói cái khăn đóng lại; ông chủ hôn Cai Sót đã
nằm ngáp trên chiếc sập con, thì các cô cũng đành
chia nhau ăn mấy khúc bánh mì còn sót lại.
Son trên môi đã hoen ố,
phấn trên má cũng phai đi từ khoảng. Chiếc
khăn mù soa đã được nằm trong túi, không còn
đeo đẳng với tay nữa. Vì hai bên bờ,
rừng tràm và dừa nước, muỗi nó kêu vang lên
như khát máu, đập bằng tay có hiệu nghiệmhơn,
chớ cầm cái khăn mà chặm chặm thì nó không
thắm tháp vào đâu cả.
Hương Ba càu nhàu mãi, và ngán
lần đến lúc ông phải đem khay trầu
rượu đi trình đàng sui gái...
Năm nay đã gần tứ
tuần, nhưng ông còn có vẻ... thanh xuân! Lần này là
lần thứ mười tám ông đi làm rể phụ.
Hễ bọn thanh niên trong làng có cưới hỏi, là
người ta nhớ đến ông, vì ông đã từ
trải lắm rồi, lại biết đủ tục
lệ.
Ông thường bảo
với bọn trẻ:
- Các cậu đừng
tưởng làm rể phụ là dễ đâu. Ðể các
cậu lãnh vai ấy thì có mà hỏng bét...
Anh tài công cho hay:
- Khỏi vàm Mang Giỗ
rồi, còn hai cái doi nữa là tới Kiến Vàng!
Trời tối đen. Bầy
muỗi tha hồ bu cắn mấy ông đi họ đang
sật sử.
Nhưng người ta đã
giục nhau:
- Sửa soạn mau lên!
Ông Cai Sót hớt hải:
- Mấy giờ rồi,
mấy giờ rồi?
- Mới có mười
giờ. Qua giờ Tý mới đúng.
- Thây kệ, giờ nào,
tới thì phải lên, đã gần chết rục rồi
đây!
Người ta hấp tấp
sửa soạn. Hương Ba gò rẫm khăn đóng cho ông Cai Sót; chàng rể gài khuy cho ông Chánh Khá.
Bà sui trai và hai người
đàn bà đi họ, mấy ngày giam hãm trong chiếc
buồng con đàng sau lái tàu để xới trầu và
xỉa thuốc, bây giờ cũng thấy hăng hái
xếp đặt lại cái hộp trầu.
Ba cô thiếu nữ nheo
mắt lo đánh vội một lớp phấn và rán vẽ
được hình trái tim trên đôi môi đỏ óng.
Người ta phủi lại nếp áo, người ta chùi
sơ lớp bụi đóng trên mũi giày. Cây đen tren
lủng lẳng giữa tàu giọi trên vách mấy cái bóng người
đi đi lại lại.Ông Hương Ba đã hờm
sẳn khay trầu rượu xây qua dặn chàng rể:
- Thanh, mầy bưng cái khay
hộp theo tao nhé! Lúc làm lễ, hễ tao đặt khay
trầu rượu ở bàn nào thì vợ chồng mầy
sẽ lạy ở bàn đó... mà nhớ luôn luôn
đứng bên tay trái nghe, “nam tả nữ hữu”, rán
học cho nằm lòng! Rồi tiếp:
- Còn tại thằng Trí,
bưng mâm, khéo lọt mấy trái cam đa, không
được giỡn hớt như ở nhà, ở
đây người ta khó lắm, coi chừng!...
Còn thằng nào đó, coi qua cái
doi chót thì nhớ đốt pháo lên ! Tiếng pháo bắt
đầu nổ vang cả xóm thì xa xa có tràng pháo trả
lời. Trên bờ sông mấy con chó hè nhau đứng
sủa... Tàu ghé bênc ái cầu có nhà mát. Cả đoàn lần
lượt lên bờ và sắp hàng có thứ tự đi vô
sân, đứng đợi.Trong nhà khách, ba bốn ông lão
đang nói chuyện vang quanh chiếc bàn tròn trải
khảm đỏ!
Mấy cây đèn sáp rọi
sáng cả gian nhà. Một bọn trai tráng mặc áo dài
đen chạy lăng xăng, pha trà, bưng chén. Họ
đàng trai vẫn đứng ngoài chờ. Hương Ba
nóng ruột:
- Mẽ ! Tại sao không có
người ra mờI ?
Một câu nói trịnh
trọng từ trong nhà khách đưa ra dường như
để trả lời:
- Bây ra ngoài mời họ
đàng trai đứng chờ đấy. Chưa tới
giờ đâu!
Chưa tới giờ! Mấy
tên bưng mâm chán nản. Thằng Trí lầm bầm:
- Ðợi tới giờ thì gãy
mẹ cái tay đi còn gì! Mỏi thấy tổ rồi
đấy!
Ông rể phụ bực mình
ghé vào tai ông Chánh Khá:
- Giượng là trưởng
tộc, rán đối đáp! Bây giờ mình cứ
việc... Tôi sẽ đém dán đôi liễn, rồi thì mình
xin cưới đặng về cho kịp con nước
một giờ!
Thế là Hương ba
bước liều vô nhà và đến đặt khay
trầu rượu trên bàn giữa. Mấy ông lão trợn
tròng.Ông Bái run run, khẽ kéo cái gọng kiếng sụp
xuống chót mũi, đầu nghiêng phía trước, cái
búi tóc lọt ra ngoài lớp khăn đóng, dựng
đứng lên như tức giận, ngó thẳng vào
mặt Hương Ba, dữ tợn. Nhưng Hương Ba
đã chắp tay:
- Dạ... Xin... cho phép tôi... dán
đôi liễn.
- À ! Dán liễn ! Mà đã
tới giờ đâu? Không phải các ông muốn tới
bắt con gài người ta lúc nào cũng
được!...
- Dạ, tôi chỉ xin dán
liễn!
Một ông họ gái già sọm
có cái mép lởm chởm mấy cọng râu ngắn dài không
đều, che mái lưa thưa trên hai làn môi mỏng
đang “hăm” lui tuốt vô miệng để cái càm
lấn nước nhô ra như một lái tàu xà lúp...: làn da
mặt nhăn nhíu khô đét như vỏ cây khô cháy
nắng; tất cả sự sống đều dồn
về cặp mắt loang loáng chỉ nhìn vòng qua cái gọng
kiếng bằng thau; cái khăn đóng quấn suông hai vòng,
cao, dầy, để lòi ở từng thượng
một búi tóc bạc phơ. Cả gương mặt có
một vẻ gì vừa lạnh lẽo, vừa gay gắt mà
một đứa bé con thấy được là phải
khóc ngay!
Ông họ ấy đang
chăm bẳm nhìn mọi người với những nét
nhăn không cảm giác, sực lên tiếng khi nghe
Hương Ba nói tới liễn.
- Dán liễn à! Ðược!
Người ta thoáng thấy
một cái nhích mép đưa nhẹ chòm râu xéo một bên:
Cười hay gây? Nào ai biết !
Hương Ba ngờ ngợ
nhìn và lanh lợi:
- Ông Tộc trưởng cho
phép chúng tôi dán đôi liễn giao hiếu.
- Ðươc. Coi nào!
Không đợi nhắc,
Hương Ba lẹ làng phết hồ lên cột.Ông
Tộc trưởng chậm chạp đứng dậy
cầm đèn sáp nhỏ đi theo xem.Lớp tuổi già
đè nặng trên lưng, nhưng ông cũng cố
gượng ngước lên, tay giơ cây đèn cao khỏi
đỉnh đầu, tay gõ bằng mấy cái móng dài
thườn thượt trên lớp liễn đỏ, dò
từng nét, từng chữ một và chậm chạp
đọc:
- Thừa... long... lạc...
ỷ... tam... chi... thọ...
Ông gật gù, nặng nề
bước qua cột bên kia. Ánh đèn làm nổi bật
mấy nét nhăn và chói sáng cả cái “tầng
thượng” trên chiếc khăn đóng: mõi cái gật làm
búi tóc lắc lư như con “lật đật” của
trẻ con!
- Giá... phụng... quan... thành...
bách... lượng... xa!
Rồi bằng một
giọng ngâm trầm bổng, ông lặp lại và phê bình:
- Thừa long lạc ỷ tam
chi thọ... Hay!
Giá phụng quan thành bách
lượng xa. .. Cũng hay!
Nhưng mà, ông chủ hôn
ơi! Ông cắt nghĩa giùm thử coi câu liễn nó
thế nào mà tôi “dốt tối dốt tăm” không hiểu
được! Ông lại chép miệng lầm thầm
như tự hỏi:
- Tam chi thọ? Ba nhánh hay ba
họ?...
Ông Chánh Khá nãy giờ
đứng rón rén cạnh Hương ba, nghe kêu, vội vàng
đưa tay lên sửa vàng khăn đóng, mạnh dạn
bưới tới biết rằng “chiến cuộc”
đã “khai hấn” và sứ mạng của ông là phải
giữ danh dự cho phe nhà:
- Dám thưa ông Tộc
trưởng, chúng tôi không phải là kẻ thâm nho, tài hèn
chỉ đáng làm môn đệ của ông, nhưng ông đã
dạy, tôi xin mạng phép vâng lời, nhờ ông không
chấp cho chuyện trước cửa Lỗ Ban múa
búa. Tôi có thể thích nghĩa xuôi hai câu ấy ra như
thế nầy:
Chú rể cỡi rồng
nương cây ba nhánh, Cô dâu hỉ hạ tìm đặng
mối trăm xe.. . Còn dịch nôm thì tôi nghe ông Ðồ
Ướt nhà tôi diễn thử trong câu này:
Rể lành đủ dựa
tài lương đống,
Dâu thảo vui nên bậc
thế quyền...
Tưởng cũng tạm
gọi được là hay vậy. Chẳng hay ông Tộc
trưởng nghĩ thế nào?
- Hay? Tạm gọi là hay? Già
nầy thấp thỏi không biết nôm na cao kiến như
mấy ông, già chỉ biết rằng trong rừng nho
biển thánh, không thiếu chi tiếng dùng, sao lại
đem nào là “thừa long... giá phụng... “ tiếng của
bậc đế vương vua chúa vô làm chi cho tủi
nhục thêm cho con nhà “dân dã” chúng tôi... Chánh Khá xanh mặt:
- Thưa ông...
- Thôi, thưa gởi làm chi
nữa, theo phép mấy ông trầu rượu tới
đây cưới con gái nhà tôi, mấy ông không có quyền
khinh khi quá lẽ... Bây giờ tôi muốn coi đồ
nữ trang trước rồi đợi tới giờ
sẽ hay.
Hương Ba vội vàng
mở khay hộp. Ông Tộc trưởng nâng từ
chiếc vòng, sợi dây chuyền lên nhìn, bỗng nhiên
mắt ông sáng hoắc lạ thường chép miệng
hỏi:
- Ủa, sao lại có đôi
bông nở mà không có bông búp?
Chánh Khá rối loạn
chực nói, nhưng đã bỡ ngỡ nhìn mọi
người.
Hương Ba lẹ miệng
đỡ lời:
- Thưa bông búp là hồi
“ăn trầu uống rượu” kia. Lời tục
người ta nói: “Bông búp về nàng, bông nở về anh”,
vì đường xa xuôi quá, chúng tôi đã yêu cầu
trầu rượu cưới hỏi một lần thì
chúng tôi tưởng “bông nở” không, cũng đủ
lễ rồi vậy...
Ông Bái ngồi chăm chỉ
nghe đến đó, bỗng nhiên khóc lên rưng rức:
- Nhà tôi vô phước.
Trời ơi, con làm nhục cha nhục mẹ vậy
hỡi con!... Sanh con tưởng gả được
chỗ môn đăng hộ đối, ai dè họ khi mình
đến đỗi này...
Ông Chánh Khá bị “tấn công” gắt
quá, đành đưa mắt cầu cứu với
Hương Ba lần nữa mà mồ hôi trên trán đã
nhỏ giọt.
Hương Ba chẳng nói
chẳng rằng, ngoắt chàng rễ bước vào, còn ông
thì đến cạnh ông Chánh Khá, láy mắt ngụ ý nói
“để tôi” rồi nói lớn để thay đổi
cuộc diện:
- Ðã trình đồ nữa
trang, thì bây giờ xin lên đèn làm lễ cưới.
Ông Tộc trưởng
trợn ngược cặp mắt, đôi lông chân chày
dửng lên làm tăng vẻ giận dữ, oai nghi:
- Ai cho phép chú cưới? Tôi
bảo đợi tới giờ nghe chưa?
Ông Chánh Khá lập tức trả lời
khéo léo:
- Xin ông Tộc trưởng
thương giùm. Con rể nó ở đời với nhau
được, có phải tại cái giờ đó đâu.
Nếu chờ đến
giờ Tý, con nước chảy ròng cho đến trưa
mai, thì chúng tôi chịu ngược cả máy con nước
nữa, chắc chết đói ở dọc đường.
Nhất là cô dâu không quen đi đường trường
bó ró dưới tàu năm sáu bữa, chẳng là tội
nghiệp lắm sao?
Ông Tộc trưởng nín
lặng.
Chánh Khá láy Hương Ba.
Hương Ba hội ý, xì ống quẹt nổi đèn khay
trầu rượu rồi đưa tay ngoắt một
cái. Ðám bưng mâm lục tục kéo vào.
Trong lúc lộn xộn,
Hương Ba lừa dịp kề tai Chánh Khá bảo
một câu:
- Lạy họ xong,
giượng xin kiếu liền, đừng để
trể một phút nào cả. Mình không cần ăn mà
cũng không cần họ tử tế nữa. Chẳng lẽ
họ níu con dâu lại đâu mà sợ.
Chánh Khá làm như lời.
Họ đàng trại đã
thông đồng ăn rập nhau đứng lên một
lượt.
Thấy con mình bị “bắt”
đi một cách “cấ